Đối với bệnh đạo ôn: Lưu ý những diện tích bón thừa đạm, diện tích bị đạo ôn lá gây hại nặng, những giống nhiễm nặng như J02, Nếp thơm, TBR225, BC15, Thiên ưu 8,...; phun phòng trừ bệnh đạo ôn lá ở những diện tích lúa giai đoạn cuối đẻ nhánh - làm đòng bị gây hại tỷ lệ bệnh ≥ 10% số lá; phun phòng trừ bệnh đạo ôn hại cổ bông ở những diện tích lúa có ≥ 1% số lá đòng hoặc cổ áo lá áp đòng bị bệnh,phun khi lúa thấp thoi trỗ (lúa trỗ được 1-3% số bông). Những diện tích cấy giống nhiễm, thời gian trỗ gặp mưa cần tổ chức phun phòng bệnh ngay sau khi mưa để hạn chế sự phát sinh, gây hại của bệnh. Sử dụng một trong các loại thuốc có chứa hoạt chất Tricyclazole, Propiconazole, Isoprothiolane,... (Filia 525®SE, Bump gold 40SE, Bamy 75WP, Ninja 35EC, Bankan 600WP,...). Đối với những diện tích lúa bị nhiễm đạo ôn lá nặng cần vơ bỏ lá bệnh đem tiêu hủy trước khi phun và tiến hành phun kép lần 2 cách lần 1 từ 5-7 ngày.
Đối với sâu cuốn lá nhỏ: Chú ý trà trung và trà muộn giai đoạn làm đòng, diện tích lúa xanh tốt, bón thừa đạm, gần ánh sáng đèn, ven làng, hàng cây… Tổ chức phun phòng trừ những diện tích lúa có mật độ sâu cuốn lá nhỏ ≥ 20 con/m2 khi sâu chủ yếu tuổi 1,2 bằng một trong các loại thuốc có chứa hoạt chất Isocycloseram, Alpha-cypermethrin, Indoxacarb … như Inpicio® 200SC, Sapen-Alpha 5EC, Vifast 5EC, Map dona 265EC, Ebato 160SC,…
Đối với sâu đục thân hai chấm: Theo dõi chặt chẽ trưởng thành vũ hóa và mật độ trứng trên đồng ruộng. Chú ý những diện tích gần ánh sáng đèn, ven làng, ven hàng cây, lúa giai đoạn đòng già - trỗ bông, lúa trỗ sớm nhất hoặc muộn nhất vùng,... Tổ chức phun phòng trừ khi sâu non mới nở (sau khi thấy bướm rộ 5-7 ngày) ở những diện tích có mật độ ổ trứng ≥ 0,3 ổ/m2 bằng một trong các loại thuốc có chứa hoạt chất Chlorantraniliprole, Isocycloseram, Spinetoram, Spinosad,… như Prevathon® 35WG, Inpicio® 200SC, Radiant® 60SC, Automex 100EC, Efphê 25EC,...
Đối với bệnh khô vằn: Phun phòng trừ những diện tích có tỷ lệ bệnh >20% số dảnh bằng một trong các loại thuốc chứa hoạt chất Propiconazole, Hexaconazole, Difenoconazole,… như Tilt Super® 300EC, Superone 300EC, Annongvin 50SC …
Đối với bệnh bạc lá - Đốm sọc vi khuẩn: Những diện tích lúa đã bị bệnh cần giữ nước thường xuyên trên ruộng để tăng khả năng chống chịu của cây; phun phòng trừ khi bệnh mới xuất hiện hoặc ngay sau khi mưa giông kết thúc bằng một trong các loại thuốc có chứa hoạt chất Bismerthiazol, Copper Oxychloride, Bronopol,... (Xanthomix 20WP, Riazor 215WP, New Kasuran 16.6WP, Sasumi 70WP, Totan 200WP, ...).
Đối với chuột: Tăng cường công tác tuyên truyền về tác hại của chuột và biện pháp phòng trừ; Tăng cường áp dụng sử dụng biện pháp thủ công (phát quang bờ, bụi, sử dụng bẫy bán nguyệt, bẫy lồng, đào bắt, hun khói,...) và biện pháp sinh học.
Chú ý: Sử dụng thuốc đúng nồng độ, liều lượng ghi trên bao bì; thu gom vỏ bao bì thuốc BVTV sau sử dụng đúng nơi quy định. Những diện tích lúa đang trỗ bông phải phun thuốc vào sáng sớm hoặc chiều mát. Pha đúng theo nồng độ khuyến cáo trên bao bì, thu gom vỏ bao bì đúng nơi quy định để tiêu hủy./.
Lan Oanh