Sự nghiệp và tư tưởng, tấm gương đạo đức vĩ đại, sáng ngời của Người sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, trường tồn theo thời gian, mãi mãi tỏa sáng trong hành trình phát triển của nhân dân ta và nhân loại tiến bộ.
Nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), Chương trình thời sự với chủ đề “Ánh sáng Hồ Chí Minh - Đối thoại với lịch sử” do Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tổ chức vào 19h ngày 19-5-2026, tiếp tục khẳng định giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ Nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.
Tham gia Chương trình có PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và ông Nguyễn Cảnh Bình, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Sách Alpha (Alpha Books), sáng lập Chương trình đào tạo lãnh đạo trẻ ABG - ABG Young Leaders Program.
Các khách mời tham dự Chương trình. Ảnh: Viết Thành
Chương trình được đặt trong mạch tư tưởng sống động: Từ hành trình tìm đường cứu nước đến ngoại giao nhân dân - sức mạnh từ lòng dân và cuối cùng là bản lĩnh “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong những thời điểm đặc biệt của lịch sử dân tộc.
Chương trình đồng thời lan tỏa tinh thần học tập suốt đời như một yêu cầu tất yếu trong xã hội hiện đại. Học không chỉ giới hạn trong nhà trường, hay sách vở, mà còn là học từ lao động, từ thực tiễn cuộc sống, từ nhân dân, lịch sử và những biến chuyển của thời đại. Mỗi chặng đường của cuộc đời đều là một hành trình tích lũy tri thức, rèn luyện bản thân và không ngừng tự đổi mới trên nền tảng các giá trị cốt lõi.
Tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh được kết tinh từ tình yêu nước và khát vọng độc lập dân tộc
Nhìn lại hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, điều làm nên tầm nhìn lịch sử đặc biệt của Người được kết tinh từ nhiều nhân tố lớn lao của dân tộc và thời đại.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Ảnh: Viết Thành
Trước hết, đó là lòng yêu nước sâu sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong bối cảnh đất nước bị thực dân phong kiến áp bức, nhân dân sống trong cảnh mất nước, lầm than. Chính hoàn cảnh ấy đã hun đúc ở Người tình yêu quê hương, dân tộc và khát vọng cháy bỏng giành lại độc lập cho đất nước. “Nhân tố đầu tiên làm nên tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là lòng yêu nước của một con người sống trong thời kỳ đất nước bị xâm lược”, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà nhấn mạnh.
Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thấu hiểu sâu sắc mong muốn độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam. Trong hàng chục năm trước khi Người tìm ra con đường cách mạng đúng đắn, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống thực dân nhưng đều chưa thành công. Từ thực tiễn ấy, Người nhận thấy khát vọng lớn nhất của nhân dân chính là giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.
Thứ ba là niềm tin vào sức mạnh của nhân dân. Người nhìn thấy khả năng sáng tạo to lớn của quần chúng nếu được tập hợp, đoàn kết và dẫn dắt đúng hướng. Người luôn tin rằng khi nhân dân được khơi dậy tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh, đó sẽ trở thành sức mạnh vô cùng to lớn để làm nên những thay đổi mang tính lịch sử.
Thứ tư là Người cũng cảm nhận sâu sắc truyền thống yêu nước, tinh thần quật cường của dân tộc Việt Nam. Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ luôn sôi sục khát vọng đổi thay, mong muốn thoát khỏi ách áp bức, nô lệ. Chính sự thấu hiểu truyền thống ấy giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh có niềm tin mạnh mẽ vào con đường giải phóng dân tộc.
Thứ năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sớm nhận ra xu thế lớn của thời đại. Đó là phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới đầu thế kỷ XX. Người đã gắn khát vọng độc lập của dân tộc Việt Nam với dòng chảy cách mạng của thời đại, từ đó tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.
“Tất cả những yếu tố ấy đã hội tụ ở Chủ tịch Hồ Chí Minh và làm nên tầm nhìn chiến lược đặc biệt của Người”, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà khẳng định.
Tầm nhìn thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là minh chứng sâu sắc cho tinh thần học tập suốt đời. Hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước cũng là hành trình Người không ngừng học hỏi từ nhân dân, từ lao động, từ thực tiễn cuộc sống và từ những biến chuyển của thời đại.
Ông Nguyễn Cảnh Bình, Chủ tịch AlphaBooks & Omega+, Viện trưởng Viện lãnh đạo ABG, Giám đốc TT Hợp tác Trí tuệ Việt Nam (VICC). Ảnh: Viết Thành
Trả lời câu hỏi về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh học từ nhân dân, từ lao động, từ thế giới và thời cuộc đã góp phần hình thành tầm nhìn lãnh đạo của Người như thế nào, ông Nguyễn Cảnh Bình cho rằng, câu chuyện học tập suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã trở thành bài học lớn, là tấm gương cho nhiều thế hệ noi theo.
Ông Nguyễn Cảnh Bình nhấn mạnh: “Tôi muốn bổ sung thêm rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ học từ nhân dân, từ các lực lượng yêu nước và tiến bộ trên thế giới. Điều khiến tôi đặc biệt ấn tượng là Người còn học hỏi từ giới tinh hoa của nhân loại”.
Theo ông Nguyễn Cảnh Bình, trong hành trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sống và làm việc tại nhiều trung tâm văn minh lớn như London, Paris hay Boston - cái nôi của cuộc Cách mạng Mỹ. Người dành nhiều thời gian tìm hiểu về lịch sử hình thành, quá trình phát triển của cuộc Cách mạng Mỹ cũng như mô hình nhà nước hiện đại.
Không dừng lại ở đó, ông Nguyễn Cảnh Bình cho rằng, tinh thần tiến bộ trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946 đã cho thấy tư duy của một nhà kiến tạo quốc gia hiện đại ở Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những giá trị tinh hoa mà Người tiếp thu từ thế giới, từ các nền văn minh lớn đã được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam, góp phần biến những khát vọng về độc lập, tự do và xây dựng quốc gia hiện đại thành hiện thực.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và những dự báo làm nên lịch sử
Nhiều nhà nghiên cứu và những người yêu lịch sử khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh thường gọi Người là một “nhà tiên tri” bởi tầm nhìn chiến lược và khả năng dự báo thời cuộc sâu sắc. Hình tượng ấy thậm chí còn được tái hiện trong điện ảnh Việt Nam qua bộ phim Nhà tiên tri.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chia sẻ tại Chương trình. Ảnh: Viết Thành
Trả lời câu hỏi cần hiểu như thế nào về chữ “tiên tri” để thấy rõ trí tuệ chính trị, khả năng dự báo thời cuộc và niềm tin sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào sức mạnh nhân dân, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, thực tế lịch sử đã chứng minh nhiều nhận định và dự báo của Bác đã trở thành hiện thực.
Ông dẫn chứng, khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhận định: “Nếu Chiến tranh thế giới thứ nhất sinh ra Liên Xô thì Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ sinh ra hàng loạt nước dân chủ nhân dân”. Chính từ tầm nhìn chiến lược đó, Người xác định phải nhanh chóng trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng, bởi nếu chậm trễ sẽ có lỗi với dân tộc.
Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, điều đó cho thấy khả năng phân tích thời cuộc sắc bén, tư duy chính trị vượt trước thời đại và niềm tin mạnh mẽ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào sức mạnh của nhân dân, vào xu thế tất yếu của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Diễn ca lịch sử nước ta và dự báo: “1945 sự nghiệp hoàn thành”, trong khi thời điểm đó cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vẫn còn vô cùng cam go. Sau này, nhiều dự báo khác của Người tiếp tục trở thành hiện thực, tiêu biểu là việc dự báo Mỹ sẽ sử dụng B-52 ném bom Hà Nội.
Lý giải về những dự báo mang tầm chiến lược ấy, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, đó không phải là sự “tiên tri” theo nghĩa thần bí, mà xuất phát từ tầm nhìn chính trị, sự hiểu biết sâu sắc về thời thế và quy luật vận động của lịch sử. Chính vì nắm bắt rất rõ tình hình quốc tế cũng như thực tiễn trong nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều nhận định chính xác, thể hiện sự nhạy bén đặc biệt với thời cuộc.
Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, mỗi quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gắn với quá trình phân tích kỹ lưỡng bối cảnh trong nước và quốc tế, từ đó đưa ra những dự báo về những điều có thể diễn ra trong tương lai dựa trên quy luật lịch sử. “Theo nghĩa đó, có thể nói Người là một "nhà tiên tri" của cách mạng Việt Nam”, ông nhấn mạnh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chuẩn bị bài bản cho tương lai của dân tộc
Từ những phân tích của PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà về năng lực dự báo lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Cảnh Bình, Chủ tịch Alpha Books khẳng định, có thể thấy Người không chỉ sở hữu tầm nhìn chiến lược vượt thời đại mà còn có khả năng chuẩn bị rất bài bản cho tương lai của dân tộc. Đó là sự kết hợp giữa dự báo thời cuộc, xác định mục tiêu rõ ràng, xây dựng lực lượng cách mạng và lựa chọn đúng thời điểm hành động để đưa cách mạng đến thành công.
Các khách mời trao đổi tại Chương trình thời sự. Ảnh: Viết Thành
Theo ông Nguyễn Cảnh Bình, ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định mục tiêu lớn nhất của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc. Trong bối cảnh đất nước còn chìm trong ách thực dân, Người đã nhìn thấy xu thế vận động tất yếu của lịch sử và nhận ra rằng, khi chiến tranh thế giới bước vào giai đoạn quyết định, cơ hội giải phóng dân tộc sẽ xuất hiện. Tuy nhiên, theo Người, thời cơ chỉ có ý nghĩa khi lực lượng cách mạng được chuẩn bị đầy đủ cả về tổ chức, chính trị và quân sự.
Chính vì vậy, trong nhiều năm hoạt động ở nước ngoài, đặc biệt tại Quảng Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung đào tạo cán bộ, xây dựng tổ chức cách mạng và hình thành lực lượng nòng cốt cho phong trào giải phóng dân tộc. Những hoạt động đó đã đặt nền móng quan trọng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và phong trào cách mạng sau này.
Ông Nguyễn Cảnh Bình cho biết, khi trở về nước năm 1941, Người chọn hang Pác Bó làm căn cứ địa cách mạng. Đây được xem là một quyết định chiến lược thể hiện sự nhạy bén và linh hoạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn địa bàn hoạt động phù hợp với điều kiện thực tế. Từ căn cứ này, Người trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân và chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa.
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chủ động tranh thủ sự ủng hộ quốc tế thông qua việc thiết lập quan hệ với nhiều lực lượng đồng minh. Đồng thời, việc thành lập Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân cho thấy tầm nhìn xa của Người trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh giành chính quyền.
"Có thể khẳng định, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là kết quả ngẫu nhiên mà là thành quả của cả một quá trình chuẩn bị lâu dài, khoa học và đầy tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chỉ dự báo đúng thời cuộc mà còn biết hành động thuận theo chiều vận động của lịch sử để đưa dân tộc Việt Nam tới độc lập và tự do", ông Nguyễn Cảnh Bình nhấn mạnh.
Bảo tàng Hồ Chí Minh: Địa chỉ đỏ lưu giữ di sản và khát vọng của Người
Mỗi dịp tháng 5 về, khi cả nước hướng tới kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng người dân Việt Nam lại bồi hồi, xúc động. Đối với những cán bộ đang công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, cảm xúc ấy lại càng đặc biệt. Đây không chỉ là niềm tự hào mà còn là trách nhiệm lớn lao trong việc gìn giữ, phát huy giá trị di sản của Người cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Bà Đỗ Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh chia sẻ với Chương trình tại điểm cầu Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ảnh: PV
Chia sẻ với chương trình tại điểm cầu Bảo tàng Hồ Chí Minh, Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh Đỗ Thị Thu Hằng cho biết, hiện nay, bảo tàng đang lưu giữ gần 17 vạn tài liệu, hiện vật về Bác, trong đó có rất nhiều mảng tài liệu, hiện vật độc bản mang giá trị lịch sử và khoa học sâu sắc. Mỗi năm, "địa chỉ đặc biệt" này đón gần 1 triệu lượt khách đến tham quan. Giữa lòng Thủ đô, Bảo tàng Hồ Chí Minh không chỉ là một thiết chế văn hóa thuần túy, mà đã trở thành một "địa chỉ đỏ" thiêng liêng cho việc tìm hiểu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Trong kho tàng di sản đồ sộ ấy, để phác họa lại hành trình cứu nước từ một người thanh niên yêu nước đến một nhà lãnh đạo thiên tài, có những hiện vật mang tính biểu tượng không thể không nhắc đến.
Trong đó, trang sổ lương năm 1911 mang tên Văn Ba - kỷ vật ghi lại thời điểm Người rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville, với công việc phụ bếp và mức lương ít ỏi 45 franc mỗi tháng, là minh chứng sống động cho ý chí vượt khó, sẵn sàng dấn thân của một người trẻ tuổi vì đại nghĩa dân tộc.
Hay Bức thư gửi Tổng thống Pháp (ngày 15-9-1911): Đơn xin học nội trú tại trường Thuộc địa thể hiện khát vọng mãnh liệt của Người trong việc tiếp cận tri thức phương Tây. Đây chính là sự chuẩn bị, là hành trang tư tưởng cho chặng đường cách mạng dài phía trước.
Bản Yêu sách của nhân dân An Nam (1919) và Sơ thảo Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa (1920) được đăng trên báo L'Humanité (Nhân đạo) là những tài liệu đánh dấu bước ngoặt lịch sử. Chính từ đây, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, con đường cách mạng vô sản, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Viên gạch sưởi ấm mùa đông Paris là một hiện vật tuy nhỏ bé nhưng chứa đựng giá trị tinh thần vô giá. Nó là biểu tượng cho sự kiên cường, giúp Nguyễn Ái Quốc vượt qua những ngày đông giá rét nơi đất khách quê người để tiếp tục thắp sưởi ngọn lửa cách mạng.
“Những tài liệu, hiện vật thiêng liêng tại Bảo tàng Hồ Chí Minh chính là bằng chứng lịch sử vô giá. Đây không chỉ là minh chứng cho khát vọng độc lập, tinh thần tự học hỏi không ngừng, mà còn khẳng định tầm nhìn vượt thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất”, Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh Đỗ Thị Thu Hằng nhấn mạnh.
Lan tỏa phương pháp tự học và tinh thần rèn luyện suốt đời của Người
Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh Đỗ Thị Thu Hằng cho biết: “Bảo tàng Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là nơi cung cấp kiến thức về một nhân vật lịch sử vĩ đại, mà hơn hết là khắc họa hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh như một tấm gương sáng ngời về phương pháp tự học và tinh thần rèn luyện suốt đời”.
Bà Đỗ Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ảnh: PV
Chính vì lý do đó, bảo tàng luôn tập trung đổi mới công tác trưng bày và giáo dục. Mục tiêu là không dừng lại ở việc truyền đạt thông tin một chiều, mà là tạo không gian để các bạn trẻ đến bảo tàng có thể suy ngẫm, từ đó khơi dậy nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho bản thân.
Theo bà Hằng, để hiện thực hóa điều đó, Bảo tàng Hồ Chí Minh đang nỗ lực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào công tác trưng bày, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm thực tế, các buổi tọa đàm và áp dụng các phương pháp giáo dục chuyên đề sinh động.
Khi đến với Bảo tàng Hồ Chí Minh, thế hệ trẻ không chỉ được học lịch sử, mà còn được khích lệ để tự vấn bản thân về phương pháp học tập và rèn luyện của chính mình. Thông qua những tài liệu, hiện vật trực quan và sinh động, các bạn sẽ hiểu sâu sắc rằng, Bác Hồ đã học từ thực tiễn, học từ nhân dân, học từ lao động và học từ thế giới. Phương pháp học tập của Người là một hành trình không ngừng nghỉ - học mọi lúc, mọi nơi, đi từ lý luận đến thực tiễn - tất cả đều phụng sự cho mục tiêu cao cả là giải phóng dân tộc và xây dựng Tổ quốc.
“Chúng tôi luôn tin tưởng rằng, khi thế hệ trẻ thấu hiểu được phương pháp học tập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những giá trị di sản vô giá của Người sẽ tiếp tục được lan tỏa, gìn giữ và phát huy trọn vẹn cho thế hệ hôm nay và mai sau”, Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh Đỗ Thị Thu Hằng nhấn mạnh.
Ngoại giao nhân dân là sức mạnh cốt lõi
Chia sẻ về quan điểm ngoại giao nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh - vốn có gốc rễ từ niềm tin sâu sắc vào nhân dân và chính nghĩa dân tộc, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, tư tưởng ấy được hình thành ngay trong hành trình Người đi tìm đường cứu nước.
Theo ông, trong quá trình hoạt động ở nhiều quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu sâu sắc sức mạnh của nhân dân và vai trò của tình cảm giữa con người với con người. Cùng với ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân trở thành một trong ba trụ cột quan trọng của nền ngoại giao Việt Nam. Tuy nhiên, đây cũng là hình thái ngoại giao dễ đi vào lòng người nhất bởi sự gần gũi, chân thành và giàu tính nhân văn.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà nhấn mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chính là làm sao để ngoại giao chạm tới trái tim con người, lan tỏa sự đồng cảm và thiện chí, chứ không đặt nặng sự khuôn phép hay khoảng cách mang tính nghi thức.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà. Ảnh: Viết Thành
Nhấn mạnh về mục đích của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn con đường ngoại giao nhân dân, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác luôn chủ động tận dụng mọi cơ hội để thực hiện công tác đối ngoại bằng sự chân thành và gần gũi với con người.
Ông dẫn chứng, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng trực tiếp đưa phi công Mỹ sang trao trả cho phía Mỹ nhằm mở ra cơ hội thiết lập quan hệ ngoại giao...
“Bác Hồ của chúng ta không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để thực hiện công tác đối ngoại theo tinh thần ngoại giao nhân dân. Người là hình mẫu rất rõ ràng cho phương pháp và mục tiêu ấy. Sau này, chúng ta càng hiểu rằng phải dựa vào nhân dân, thông qua nhân dân để thực hiện công tác đối ngoại và đó cũng là điều quan trọng nhất”, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà nhấn mạnh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một “thiên tài kể chuyện”
Theo ông Nguyễn Cảnh Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một “thiên tài kể chuyện”, đồng thời là người đầu tiên và thành công nhất trong việc đưa câu chuyện Việt Nam, hình ảnh Việt Nam và dân tộc Việt Nam ra với thế giới.
Ông Nguyễn Cảnh Bình chia sẻ tại Chương trình. Ảnh: Viết Thành
"Điều đặc biệt ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là khả năng truyền tải bản sắc dân tộc, mà còn ở sức lan tỏa mạnh mẽ tới bạn bè quốc tế. Qua nhiều chuyến đi tới các quốc gia từ Cuba đến châu Phi, tôi nhận thấy nhiều người dân vẫn dành sự ngưỡng mộ đặc biệt đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và xem Việt Nam như một hình mẫu truyền cảm hứng", ông Nguyễn Cảnh Bình chia sẻ.
Nghệ thuật diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm ở việc biến những mục tiêu lớn lao thành những thông điệp giản dị, gần gũi, dễ hiểu và dễ nhớ để có thể đi vào lòng người. Những khẩu hiệu ngắn gọn nhưng giàu sức lay động đã góp phần khơi dậy tinh thần đoàn kết, cổ vũ nhân dân tham gia cách mạng và xây dựng đất nước trong bối cảnh phần lớn người dân khi đó còn ít có điều kiện học tập.
Thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và hoạt động tại Boston hay London, nơi Người từng viết báo, kể những câu chuyện về thân phận người lao động nghèo bằng lối viết ngắn gọn, sắc sảo nhưng giàu tính nhân văn. Chính cách kể chuyện đó đã giúp thế giới hiểu hơn về Việt Nam, về khát vọng độc lập và tinh thần của dân tộc Việt Nam.
“Đến hôm nay, chúng ta vẫn đang kế thừa nguồn lực rất lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, đó là sức mạnh của câu chuyện, của hình ảnh quốc gia và khả năng kết nối con người bằng những giá trị giản dị nhưng sâu sắc”, ông Nguyễn Cảnh Bình bày tỏ.
Hành trình tìm lời giải cho vấn đề thuộc địa của Người
Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, vấn đề thuộc địa của Việt Nam khi đó chính là vấn đề lớn lao và đó là lý do lớn nhất mà Người đi tìm lời giải cho đất nước. Phải mất gần 10 năm, Bác mới tìm thấy con đường cứu nước thông qua Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa vào tháng 7-1920, mà Người đã reo lên: Con đường cứu nước là đây rồi!.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chi sẻ tại Chương trình. Ảnh: Viết Thành
Vấn đề thuộc địa liên quan đến vấn đề dân tộc chính là vấn đề chính yếu trong cuộc ra đi tìm đường cứu nước của Bác để giải phóng khỏi thuộc địa và Bác luôn luôn xoay quanh bằng các bài viết của mình.
"Tôi nhớ rất rõ là Bác viết câu chuyện Bản yêu sách của nhân dân An Nam, 8 điểm, gửi tới Hội nghị Versailles và chính Bác là người gửi cho các đoàn đại biểu. Hay tại Đại hội lần thứ năm của Quốc tế Cộng sản họp vào khoảng tháng 5-1924 ở Moskva, Bác được mời đến, ba lần giơ tay lên diễn đàn phát biểu, nói về vấn đề dân tộc, thuộc địa", PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà chia sẻ.
Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, tất cả những nỗ lực ấy của Người thể hiện một ý chí nung nấu, không chỉ dừng lại ở việc giải phóng riêng Việt Nam mà còn hướng tới mục tiêu cao cả là giải trừ hoàn toàn chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn cầu. Với vai trò mở đường và dẫn dắt phong trào giải phóng thuộc địa cho cả dân tộc lẫn thế giới, Người xứng đáng được tổ chức UNESCO vinh danh là Anh hùng giải phóng dân tộc, để lại một di sản tinh thần bất tử cho nhân loại.
Ánh sáng Hồ Chí Minh tiếp tục là nguồn sức mạnh chiến lược trong kỷ nguyên mới
Trong bài viết Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, nhấn mạnh: Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là nguồn sức mạnh chiến lược trong kỷ nguyên mới.
Từ tư tưởng ngoại giao nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến yêu cầu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc hôm nay cho thấy, việc chuyển hóa sức mạnh lòng dân thành đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, văn hóa liêm chính, tinh thần đổi mới sáng tạo và những kết quả cụ thể trong phục vụ nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó cũng chính là cách để tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được vận dụng sinh động trong thực tiễn, trở thành động lực củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Ông Nguyễn Cảnh Bình. Ảnh: Viết Thành
Theo ông Nguyễn Cảnh Bình, có thể thấy nhiều tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được hình thành từ quá trình tiếp thu, học hỏi tinh hoa thế giới, đặc biệt là từ những luận cương, chương trình hoạt động của nước Nga thời kỳ đầu cách mạng vô sản cũng như từ các nghiên cứu của Người về phong trào giải phóng dân tộc và mô hình tổ chức chính quyền ở nhiều quốc gia.
Theo ông Nguyễn Cảnh Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ những tư tưởng, bài học ấy không chỉ qua sách vở mà còn từ chính thực tiễn hoạt động cách mạng trong những năm sống và làm việc tại Paris, Mát-xcơ-va và trong môi trường hoạt động của Quốc tế Cộng sản. “Những bài học Người đúc kết vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay”, ông nhấn mạnh.
Trong khi đó, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vấn đề dân tộc thuộc địa vào chương trình nghị sự của Quốc tế Cộng sản cho thấy mục tiêu xuyên suốt của Người là tìm ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả không chỉ là tìm ra con đường, mà còn là tổ chức và lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, đó là hành trình lâu dài mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trực tiếp tham gia và dẫn dắt. Năm 1920, sau khi tìm thấy con đường cứu nước, Người trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và là một trong những người tham gia sáng lập tổ chức này. Giai đoạn từ năm 1920 đến trước khi Đảng ra đời đầu năm 1930 là quá trình Người chuẩn bị toàn diện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng tại Việt Nam.
“Chính đảng đó sẽ tập hợp, lãnh đạo quần chúng nhân dân đi theo đường lối của Người để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc”, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà bày tỏ.
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” - nghệ thuật giữ vững độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách. Chính quyền cách mạng còn non trẻ nhưng đồng thời phải giải quyết hàng loạt vấn đề lớn về cả đối nội, đối ngoại trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp.
Trong hoàn cảnh ấy, tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành phương châm hành động đặc biệt quan trọng, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của người lãnh đạo cách mạng. PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà nhận định, chính sự kiên định về mục tiêu độc lập dân tộc, đồng thời linh hoạt trong sách lược và phương pháp ứng xử đã giúp cách mạng Việt Nam từng bước vượt qua giai đoạn đầy cam go sau ngày đất nước giành độc lập.
GS.TS Nguyễn Mạnh Hà. Ảnh: Viết Thành
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam phải đối mặt với tình thế vô cùng ngặt nghèo khi trên lãnh thổ lúc bấy giờ có tới gần 300.000 quân nước ngoài hiện diện. Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc là quân Tưởng Giới Thạch kéo vào giải giáp quân Nhật; từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam là quân Anh, trong khi thực dân Pháp tìm mọi cách quay trở lại tái chiếm Đông Dương. Dù đã đầu hàng Đồng minh, quân Nhật vẫn còn hiện diện tại nhiều địa phương.
Trong khi đó, lực lượng quân sự của chính quyền cách mạng Việt Nam còn rất non trẻ, chỉ khoảng 5.000 quân với trang bị, kinh nghiệm và khả năng tác chiến còn nhiều hạn chế. Tương quan lực lượng lúc ấy hoàn toàn không có lợi cho Việt Nam, đặt chính quyền cách mạng trước những thử thách đặc biệt cam go ngay trong những ngày đầu giành được độc lập.
Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định điều “bất biến” chính là độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia - nguyên tắc tuyệt đối không thể nhân nhượng. Còn “vạn biến” là sự mềm dẻo, linh hoạt trong sách lược để giữ vững mục tiêu lớn nhất là bảo vệ nền độc lập non trẻ của đất nước.
Theo đó, trước những sức ép và yêu sách từ quân Tưởng Giới Thạch cùng các lực lượng đối lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn giải pháp nhân nhượng có nguyên tắc. Khi đối phương yêu cầu giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng chấp nhận tuyên bố “tự giải tán” trên danh nghĩa nhưng thực chất chuyển vào hoạt động bí mật nhằm bảo toàn lực lượng lãnh đạo cách mạng.
Khi các đảng phái đối lập yêu cầu tham gia Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chấp nhận chia sẻ một số vị trí trong bộ máy và dành 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử để tạo thế hòa hoãn. Tuy nhiên, những vấn đề mang tính chiến lược và quyền quyết định vận mệnh đất nước vẫn thuộc về chính quyền cách mạng. Điều đó cho thấy bản lĩnh chính trị, tư duy linh hoạt và nghệ thuật ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc giữ vững lợi ích tối cao của dân tộc.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, điểm đặc biệt trong tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sự kết hợp hài hòa giữa kiên định mục tiêu và linh hoạt trong phương pháp. Người có thể mềm dẻo về sách lược, chấp nhận những nhân nhượng cần thiết trong từng thời điểm cụ thể nhưng tuyệt đối không đánh đổi độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.
Chính tư duy ấy đã giúp Việt Nam vượt qua giai đoạn cam go nhất sau Cách mạng Tháng Tám, giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ và tạo nền tảng quan trọng cho cuộc đấu tranh lâu dài của dân tộc trong những giai đoạn tiếp theo.
Tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc không thể thay đổi
Nêu quan điểm về từ tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nhìn về hôm nay, ông Nguyễn Cảnh Bình, Chủ tịch Alpha Books cho biết, tinh thần đấy là tinh thần yêu nước, là tinh thần độc lập dân tộc không thể thay đổi. Nhưng những thứ mà các bạn trẻ và thế hệ chúng ta hôm nay phải học hỏi nhiều hơn nữa, đấy là việc học hỏi thế giới văn minh, hiện đại, những phương pháp, cách thức mới, lòng yêu nước không chỉ là lời hô hào, mà phải thể hiện bằng sự hiểu biết, gắn bó với quê hương, với lịch sử, với những anh hùng của dân tộc.
Ông Nguyễn Cảnh Bình. Ảnh: Viết Thành
Bởi vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân đến Mỹ, đến Pháp, học hỏi sự văn minh và tiến bộ, kết giao với tất cả những lực lượng tiến bộ ở trên thế giới, rồi học hỏi những phong trào tiến bộ, học hỏi những luận thuyết mà tiến bộ nhất của thời đó.
Ông Nguyễn Cảnh Bình cũng cho rằng, tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến” cũng phải đồng hành với việc học hỏi về công nghệ, hay học về những tri thức hiện đại.
“Cho nên hôm nay, tinh thần đó đối với chúng ta vẫn còn nguyên giá trị. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần học hỏi hơn nữa, gắn bó và đi cùng nhịp với sự phát triển của văn minh thế giới”, ông Nguyễn Cảnh Bình nói.
Hào khí Chùa Trầm và lời thề giữ vững độc lập dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới...”. Tinh thần ấy cho thấy sự mềm dẻo, kiên trì hòa hoãn của Việt Nam trong giai đoạn đầu sau Cách mạng Tháng Tám nhằm tránh một cuộc chiến khi điều kiện còn vô cùng khó khăn.
Việt Nam có thể nhân nhượng ở một số vấn đề cụ thể, nhưng những nguyên tắc cốt lõi liên quan đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các quyền dân tộc cơ bản thì tuyệt đối không thể đánh đổi. Khi mọi nỗ lực hòa hoãn đã đi đến giới hạn cuối cùng và thực dân Pháp tiếp tục đẩy mạnh xâm lược, dân tộc Việt Nam buộc phải cầm vũ khí đứng lên kháng chiến để bảo vệ nền độc lập vừa giành được.
Thời điểm đó, tương quan lực lượng giữa Việt Nam và thực dân Pháp chênh lệch rất lớn. Vũ khí, trang bị và nguồn lực của ta còn vô cùng thiếu thốn, nhưng với ý chí bảo vệ độc lập dân tộc, toàn dân đã bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ với tinh thần quyết tâm giữ vững chủ quyền đất nước.
GS.TS Mạch Quang Thắng, nhà nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh. Ảnh: HN
Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đây phải là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện. Người kêu gọi: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm súng thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Tất cả toàn dân đứng lên chống Pháp cứu Tổ quốc”.
Lời kêu gọi ấy thể hiện quyết tâm sắt đá của cả dân tộc Việt Nam khi mọi nỗ lực hòa hoãn không còn mang lại kết quả. Đó cũng là thời điểm nhân dân Việt Nam nhận rõ âm mưu của thực dân Pháp muốn quay trở lại xâm lược, đặt ách đô hộ lên đất nước ta một lần nữa.
Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, biến ý chí bảo vệ độc lập thành sức mạnh chiến đấu của toàn dân, tạo nền tảng cho cuộc kháng chiến trường kỳ sau này.
Dân tộc Việt Nam bước vào một giai đoạn mới vô cùng cam go - vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Bằng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền đi quyết tâm và niềm tin mạnh mẽ để toàn dân tộc đứng lên kháng chiến cứu nước, đồng thời tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc.
Niềm tin ấy sau này đã trở thành hiện thực bằng chiến thắng Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954 - mốc son “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, mở ra giai đoạn cách mạng mới của đất nước.
Đứng dưới mái chùa Trầm hôm nay - di tích lịch sử đặc biệt gắn với nhiều dấu ấn cách mạng mỗi người càng thêm nhớ về hào khí của lời kêu gọi thiêng liêng năm xưa, khi toàn dân tộc đồng lòng đứng lên bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc.
Niềm tự hào và nguồn lực tinh thần của địa phương
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Chương Mỹ Phí Minh Hải chia sẻ: “Trong không khí trang nghiêm và đầy tự hào, chúng tôi vô cùng xúc động khi được bày tỏ những tâm tư, tình cảm của mình đúng vào dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Đứng trước anh linh của Người, chúng ta bày tỏ lòng thành kính, biết ơn công lao trời biển của Bác - Người Anh hùng dân tộc vĩ đại, Danh nhân văn hóa thế giới. Người đã hiến dâng trọn vẹn cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang, không ngừng chèo lái con thuyền lịch sử để đấu tranh cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc và chăm lo cho cuộc sống hạnh phúc, ấm no của nhân dân".
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Chương Mỹ Phí Minh Hải chia sẻ với chương trình. Ảnh: HN
Ông Phí Minh Hải khẳng định, tiếp nối truyền thống cách mạng và để tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với công ơn của Người, cán bộ, đảng viên, nhân dân phường Chương Mỹ nguyện không ngừng phấn đấu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, nhằm xây dựng quê hương Chương Mỹ ngày càng giàu đẹp, văn minh và hiện đại. mang lại cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Gìn giữ và phát huy giá trị di tích Hang Trầm, chùa Trầm
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Chương Mỹ Phí Minh Hải cho biết, Khu di tích Hang Trầm, chùa Trầm không chỉ là danh lam thắng cảnh nổi tiếng mà còn là “địa chỉ đỏ” giàu giá trị lịch sử cách mạng, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần về thăm và làm việc vào các năm 1947, 1957 và 1966.
GS.TS Mạch Quang Thắng, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và ông Phí Minh Hải, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Chương Mỹ cùng phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tại điểm cầu Hang Trầm. Ảnh: Kim Nhuệ
Ông Phí Minh Hải cho biết, để gìn giữ và phát huy giá trị của Khu di tích Hang Trầm, chùa Trầm, đồng thời cụ thể hóa Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị, địa phương đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ.
“Phường tập trung tu bổ các hạng mục xuống cấp, hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận Hang Trầm, chùa Trầm là Di tích quốc gia đặc biệt; đồng thời đẩy nhanh dự án xây dựng khu trưng bày về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tạo thêm động lực phát triển du lịch địa phương”, ông Phí Minh Hải cho biết.
Cùng với công tác bảo tồn, địa phương đã triển khai số hóa dữ liệu di tích bằng mã QR, hướng tới xây dựng hình ảnh 3D nhằm giúp người dân và du khách tiếp cận lịch sử bằng hình thức trực quan, sinh động hơn.
Phường Chương Mỹ cũng xác định việc bảo tồn di tích phải gắn với giáo dục truyền thống, khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa trong cộng đồng, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.
“Vì vậy, Hang Trầm, chùa Trầm được lựa chọn là nơi tổ chức nhiều hoạt động chính trị, văn hóa, thể dục thể thao như lễ báo công, lễ kết nạp đảng viên, đoàn viên, đội viên và các chương trình về nguồn”, ông Phí Minh Hải thông tin.
Bên cạnh công tác bảo tồn, địa phương tập trung phát triển du lịch văn hóa - tâm linh theo hướng bền vững; kết nối cụm di tích Hang Trầm, chùa Trầm với các làng nghề và sản phẩm đặc trưng của địa phương, đồng thời đẩy mạnh quảng bá hình ảnh di tích trên các nền tảng số và phương tiện truyền thông hiện đại.
“Chúng tôi tin rằng, với sự quan tâm của thành phố và sự đồng lòng của nhân dân, Hang Trầm, chùa Trầm sẽ tiếp tục là niềm tự hào, là bản sắc văn hóa và nguồn lực tinh thần quan trọng trong quá trình phát triển của Chương Mỹ hôm nay cũng như trong tương lai”, ông Phí Minh Hải nhấn mạnh.
Bản lĩnh và trí tuệ làm nên nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh
Nhấn mạnh về sự khác biệt giữa mềm dẻo về sách lược và thỏa hiệp về nguyên tắc trong cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, điểm đặc biệt ở Hồ Chí Minh là luôn linh hoạt, mềm dẻo trong đối sách nhưng tuyệt đối không nhân nhượng đối với những vấn đề cốt lõi mang tính nguyên tắc.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà nhận định, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rất rõ khát vọng lớn nhất của nhân dân Việt Nam là giành và giữ vững độc lập dân tộc. Đồng thời, Người cũng nhìn thấy sức mạnh to lớn của nhân dân khi được tập hợp và huy động để bảo vệ nền độc lập ấy.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà tại Chương trình. Ảnh: Viết Thành
Chính vì vậy, trong mọi quyết sách và ứng xử ngoại giao năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định quan điểm độc lập dân tộc là mục tiêu tối thượng, không thể đánh đổi. Người có thể chấp nhận những nhân nhượng nhất định về kinh tế, chính trị hoặc sách lược nhằm tránh thế đối đầu bất lợi, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.
Tuy nhiên, những nguyên tắc liên quan đến chủ quyền, tự do và độc lập dân tộc luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là giới hạn không thể bị xâm phạm. Điều đó thể hiện rõ bản lĩnh chính trị và tư duy chiến lược nhất quán của Người trong giai đoạn đặc biệt cam go của cách mạng Việt Nam.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà nhấn mạnh, chính sự kiên định về nguyên tắc nhưng linh hoạt trong sách lược đã làm nên bản lĩnh và tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là yếu tố tạo nên sự khác biệt trong nghệ thuật lãnh đạo và ngoại giao của Người, góp phần đưa cách mạng Việt Nam vượt qua những thời điểm đặc biệt cam go của năm 1946.
Bổ sung ý kiến của PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, ông Nguyễn Cảnh Bình cho rằng, điều làm nên sự khác biệt trong tư duy và cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là bản lĩnh chính trị cùng vốn tri thức, hiểu biết sâu rộng về đối thủ.
Theo ông Nguyễn Cảnh Bình, những năm tháng sống và hoạt động tại Mỹ, Pháp đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh có điều kiện trực tiếp tìm hiểu cách vận hành của nền chính trị phương Tây, đặc biệt là cơ chế chính trị của Mỹ và Pháp. Chính sự am hiểu sâu sắc ấy trở thành nền tảng quan trọng để Người đưa ra những quyết sách linh hoạt nhưng vẫn giữ vững các nguyên tắc cốt lõi của dân tộc.
Ông Nguyễn Cảnh Bình nhấn mạnh, trong quá trình chuẩn bị cho Hội nghị Fontainebleau cũng như trong cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đối thoại bằng tinh thần yêu nước mà còn bằng sự hiểu biết sâu sắc về hệ thống chính trị, tâm lý xã hội và những điểm yếu của đối phương.
Đối với Hoa Kỳ, Người hiểu rõ sức mạnh của một cường quốc, đồng thời nhận ra áp lực lớn nhất của nền chính trị Mỹ nằm ở dư luận xã hội, lá phiếu cử tri và các cuộc bầu cử Tổng thống. Chính vì vậy, Việt Nam không chỉ đấu tranh trên chiến trường mà còn chú trọng tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ Mỹ và dư luận quốc tế, qua đó tạo thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc.
Tương tự, với Pháp, quãng thời gian hoạt động tại Paris đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ đời sống chính trị và vai trò của phong trào quần chúng trong xã hội Pháp.
Trong quá trình chuẩn bị cho Hội nghị Fontainebleau, Người đã khéo léo tranh thủ sự đồng cảm của các lực lượng tiến bộ và phong trào nhân dân Pháp nhằm tạo thêm tiếng nói ủng hộ cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam.
Theo ông Nguyễn Cảnh Bình, chính bản lĩnh, trí tuệ và sự hiểu biết sâu sắc về cách vận hành của đối thủ đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ đâu là vấn đề cần kiên quyết giữ vững, đâu là nội dung có thể linh hoạt về sách lược.
Đồng thời, Người cũng nhận diện đúng những điểm yếu của đối phương để lựa chọn phương thức đấu tranh phù hợp và hiệu quả. Theo ông Nguyễn Cảnh Bình, đây chính là biểu hiện nổi bật của tư duy ngoại giao sắc sảo cùng nghệ thuật lãnh đạo mang tầm vóc lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
“Dân là gốc” - nguyên tắc xuyên suốt trong quản trị quốc gia
Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Tinh thần ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.
Trong bài viết Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng nhấn mạnh tư tưởng “dân là gốc” chính là trục xuyên suốt trong mọi chủ trương, đường lối và chính sách hiện nay. Điều đó tiếp tục khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước ở giai đoạn mới.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà. Ảnh: Viết Thành
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, bài học lớn nhất đối với quản trị quốc gia hôm nay là mọi chủ trương đổi mới phải xuất phát từ nhân dân, hướng tới nâng cao đời sống nhân dân và lấy sự đồng thuận xã hội làm nền tảng để triển khai thực hiện.
Quan điểm ấy cũng được thể hiện rõ qua phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng”. Trong đó, người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển mà còn phải được tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chính sách.
Trong bối cảnh hiện nay, từ cải cách tổ chức bộ máy, chuyển đổi số đến quy hoạch phát triển đô thị đều tác động trực tiếp đến đời sống người dân. Vì vậy, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, đội ngũ cán bộ ở mọi cấp cần làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích, đối thoại và tạo sự đồng thuận trong xã hội.
“Người dân cần được biết chủ trương đó mang lại lợi ích gì, tác động như thế nào đến cuộc sống của họ và họ được tham gia đóng góp ý kiến ra sao. Khi người dân hiểu, đồng tình và cùng tham gia thực hiện thì các chính sách mới có thể đi vào thực tiễn hiệu quả, bền vững”, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà nhấn mạnh.
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Chương trình. Ảnh: Viết Thành
Trong khi đó, ông Nguyễn Cảnh Bình cho rằng, những bài học của Chủ tịch Hồ Chí Minh về gần dân, hiểu dân và học hỏi từ thực tiễn vẫn còn nguyên giá trị đối với công tác quản trị hiện đại.
Theo ông Nguyễn Cảnh Bình, trong quá trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế là rất cần thiết. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là phải biết vận dụng linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước cũng như tâm lý xã hội của người dân Việt Nam.
Ông Nguyễn Cảnh Bình đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đội ngũ công vụ trong việc truyền tải chính sách đến người dân bằng những phương thức gần gũi, dễ hiểu và thực chất.
“Chủ tịch Hồ Chí Minh từng rất thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ giản dị, dễ tiếp cận để kêu gọi và tạo dựng niềm tin trong nhân dân. Đây cũng là bài học quan trọng hiện nay, khi nhiều chủ trương cải cách chỉ có thể thành công nếu người dân thực sự hiểu, tin tưởng và thấy mình là một phần của quá trình đổi mới”, ông Nguyễn Cảnh Bình chia sẻ.
Theo ông Nguyễn Cảnh Bình, tư tưởng “dân là gốc” không chỉ dừng lại ở một khẩu hiệu chính trị mà cần trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong quản trị quốc gia hiện đại. Mọi đổi mới chỉ thực sự thành công khi lấy người dân làm trung tâm, làm mục tiêu phục vụ và cũng là thước đo cuối cùng đánh giá hiệu quả của chính sách./.